Thứ Ba, 3 tháng 5, 2016

Chuyến tàu Thống Nhất

Tiếp tục hành trình "từ Sài Gon đến Điện Biên Phủ" thằng viết cùng 4 đồng hành mua vé tàu "Thống Nhất" đi Hà Nội, trưa ngày 2-5 khởi hành và đến Hà Nội vào 5:30 giờ sáng ngày 3 tháng 5.

Vé tàu Đà Nẵng-Hà Nội là chừng 50 mỹ kim cho giường nằm, máy lạnh (em mua 833 nghìn VNĐ, có bớt gì đó vì giá đặc biệt cho trẻ em người già). So với 1 vé máy bay thì có thể mắc hơn 1 tí vậy mà các toa giường đều đầy chổ. Chả biết là có nhiều người sợ đi máy bay như em, hay là cũng vẫn còn nhiều người muốn đi xe hỏa cho biết, như 1 số "Tây ba-lô" và thằng viết. (Tây ba-lô là gọi 1 loại du khách Âu Mỹ muốn đi tham quan thế giới với tài chánh tiết kiệm, họ cũng có thể chọn tàu hay xe đi qua đêm để đở tiền 1 đêm hotel. Ngoài ra đi xe lửa là loại phương tiện đất ít có khả năng tại nạn nhất)




Trải nghiệm đường sắt đặc sắc như văn hóa đường sắt, khắp thế giới con người đâu đâu nước nào cũng thich thú đặc biệt. Từ thủa nhỏ với các đồ chơi tàu lửa, đến các bảo tàng với những đầu máy hay toa xe thật, xe lửa có sức thu hút đặc biệt đối với con người từ trẻ con đến người lớn.
Trải nghiệm của chuyến xe lửa cũng là đặc biệt nhất, với những hình ảnh chiêc đầu máy, toa xe tượng trưng cho những chốn xa vời khác lạ, các trạm ga đầy màu sắc âm thanh địa phương, lữ khách  với những câu chuyện cuộc đời khác xa mình, mà khả năng mình làm quen trò chuyện được. Âm thanh đầu máy cùng tiếng còi và tiếng  cóc cách bánh xe gây nên trên đường rây giữa đêm khuya ai đã nghe qua 1 lần không thể quên, mỗi lần trải nghiệm lại là bao kỷ niệm dù có xa xưa đều quây về trọn vẹn. 

Thời hỏa xa Miền Nam còn dùng đầu máy đốt than chạy hơi nước thằng viết đã thường cùng cha mẹ đi chuyến tàu đêm Nha Trang-Sài Gòn. Đêm thứ Bảy lên tàu vào buổi chiều và đến Ga Sài Gòn ngay tại Bùng Binh Bến Thành vào lúc rạng đông Chủ Nhật khi Sài Gòn mới bừng dậy. Đi chơi, mua sắm hết ngày rồi chiều lại lên xe giường ngủ, là những giường nằm lót thanh gổ như ghế ngồi, và giờ đến Ga Nha Trang là cũng vào buổi sáng sớm thứ Hai. Cùng trong những năm yên bình sau Đình Chiến em cũng đã đi tàu lên Đà Lạt từ Phan Rang, tàu đi đến chân đèo Bellevue thì đi lên đường rầy 3 rây, rây giữa có răng cưa (tuyến này bây giờ đã bỏ).


Có rât nhiều du khách da trắng ("Tây") cho dù mình hay nghĩ xe hỏa là 1 phương tiện bình dân, nhọc nhằn và vệ sinh không tốt cho lắm. Cũng có thể du khách nước ngoài quen đùng đường sắt bên họ hiện đại và thoải mái, tưởng xe lửa ta cũng phải như thế (chứ giá vé thì khá mắc nếu so với đường hàng không).



Năm vừa qua em có xem 1 phim về chuyến tàu Thống Nhất cũng cũ rồi (2002), của show thường trực Globe Trekker của BBC, thấy có nhiều nét thấy... hoài cổ, đầy màu sắc Việt  nên đã thuyết phục các bạn đồng hành muốn đi Điện Biên hãy đi đoạn này bằng tàu (em đã đi đoạn Đà Nẵng- Nha Trang năm 2009, và 2 lần đi Sa-Pa bằng tàu đêm rồi). Đi thêm cho biết, hòa mình vào nhịp sống con người cho trải nghiệm "du lịch" được toàn diện hơn, đáng nhớ hơn. Nhất là sớm muộn gì thì nếp sống và sắc thái hỏa xa Việt Nam cũng phải thay đổi, hiện đại hóa đi - mất vui.
Chứ muốn chọn 'mau chóng', 'hiện đại', 'sạch sẽ', 'sang trọng', 'an toàn không bất trắc' thì ở nhà cho khỏe, đi đâu xa xôi tốn kém cho mệt.




Giường chiếu thì đại khái như thế này, chăn gối vệ sinh, drap nệm giặt giũ sạch sẻ. Máy lạnh khá mạnh. Nói chung không gian cũng dễ chịu nếu phải chia với người lạ mặt - cái thực tế phủ phàng là người có tiền mua vé đắt tiền 1 chút thường là người có 1 trình độ xã hội tương đối nào đó, 1 giáo dục nào đó nên dễ tiếp cận. Cái mình sợ nhất là không gian chật hẹp, ngột ngạt và... mùi hôi, nhưng qua 4 lần trải nghiệm xe lửa em đều thấy thoải mái. Tốt hơn hết là các bạn khi mua vé nhớ đòi giương trong  khoan 4 giường, tránh mua giường trong phòng 6 giường (3 tầng).

Ảnh: www.vetau24h.com
Sân ga khi nào cũng đượm một vẽ lãng mạn khó tả nào đó, nhất là sân ga Việt Nam còn nhiều sắc thái truyền thống nguyên thủy. 
 


Khởi hành. Xe lửa lúc nào cũng là phương tiện đúng giờ giấc nhất, một bản chất có tính cách quốc tế, Việt nam cũng không khác.

Nếu bạn đọc đã từng đi tàu lửa thì đã có nhìn ra cửa vào lúc xe qua các "cổng xe lửa" mà thường nhật mình đã trải nghiệm từ mặt đường lộ, và đã nhận ra hình dưới là 1 cổng xe lửa.


Cảnh này thì lại là khá đặc biệt nhé: chắc bạn đọc đã nhìn thấy cách sắp đặt tự nhiên của đội hình xe cộ đứng dưới nắng đổ lửa tháng 5. Chỉ 1 bác đi xe gắng máy độc nhất là ngừng xe sát cổng chặn, số xe gắn máy và ngay cả 1 chiếc xe hơi đã cùng chọn ngừng dưới bóng cây bàng cách cổng chừng 15 thước để tránh nắng.
Hình dưới là Thiền viện Bồ Đề bên tuyến đường sắt ra vùng Nam Ô, chân đèo Hải Vân. Đường ray sẽ ra hướng Hải Vân và ôm sát chân núi ven biển theo một đường quanh co nhưng không lên cao mấy.


Một kho xăng dầu nhỏ đưới chân đèo.


Bờ biển Nam Ô, truoc đây không lâu là 1 "vùng xa" so với thị xã Đà Nẵng (những năm chiến tranh), nay liền đường phố với thị xã.




Qua một hai cây cầu rồi thì đường rầy  đi hằn vào chân núi, 1 vùng không dân cư rất ngoạn mục nhưng không có đường vào, chỉ có thể thưởng ngoạn được từ trên xe lửa.


Một vùng hoang sơ nhưng lại rất gần thành Phố Đà Nẵng. Chắc sớm muộn gì cũng sẽ có đường ra và sẽ biến thành những khu khách sạn nghĩ dưỡng (người Việt Nam bây giờ đã quen gọi là resorts, rì-xọt).



Từ điểm nhìn này nhìn thấy Vịnh Đà Nẵng. Trái núi trong chân trời là bán đảo Sơn Chà, cửa ra biển của vịnh là góc trái.



Đường xe lửa qua nhiều hầm nhỏ dưới chân núi Hải Vân ven biển. Trên thế giới chắc không nhiều tuyến hỏa xa với cung đường đặc sắc như thế này.
(từ trên toa xe với cửa kính rất bẩn và không hạ được rất khó có hình ành cho vừa ý, diễn tả được vẽ đẹp cảnh quan thật sự trải nghiệm được)
Đường rây sắt do người Pháp thiết kế cách đây trên 100 năm, đến nay căn bản vẫn là thế.
Đường quanh núi Hải Vân cao nhât là những chổ như thấy, cao độ chừng 200 mét trên mặt biển.

Mũi cực Đông của chân núi Hải Vân.


Qua khỏi chân núi Hải Vân là đến vùng Lăng Cô nhưng không có hình được vì tuyến đường chạy giữa nhiều lùm cây bên đường. Hình dưới nhìn vào phía Tây đối diện, đoạn dưới chân núi Bạch Mã


và vùng tên là Truồi. Ở Thừa Thiên có rất nhiều tên địa phương chỉ 1 chữ, như Hiên, Giành, Truồi, Sịa, Chuồn... vân vân, và ngay cả tên Huế.


Sau đó phía biển có thể nhìn thấy Đầm Cầu Hai, đường rây chạy song song quốc lộ 1A.



Qua Huế  thằng ra Quảng Trị. Hình nhìn về hướng Tây và dãy Trường Sơn



Tàu Thống Nhât chủ yếu là chuyến tàu suốt chở hành khách và chỉ ngừng ở ít ga lúc trời còn sáng. 
Ga Đồng Hà Quảng Trị.


Không biết vì quá trình lịch sử hay thực sự vì vùng biên giới phân chia Nam Bắc một thời đã mang một ấn tượng buồn bả, mà ai qua vùng này vẫn thấy một vẻ trầm tư khó tả. Nhất là tại 1 sân ga tỉnh lẻ vào lúc chiều tà với ít lữ khách lên xuống.
Hành khách lên xuống tại đây hình như là người dùng đoạn từ Đà Nẵng, Huế và xuống xa nhất là Đồng Hới, sau đó số khách trên tàu ổn định cho đến ga Phủ Lý trên đồng bằng Sông Hồng vào sáng ngày mai mới có 1 ít người xuống.


Đồng Hà Quảng Trị là ga cuối cùng trên vùng đất dưới Vĩ Tuyến 17, sau đó là vùng trước đây là "Vùng phi quân sự".

Phải gọi là "vùng phi dân sự" mới đúng hơn. Trước khi chiến tranh Nam Bắc khởi đầu - sau Hiệp Định Geneva vài năm - thì đi đến khó khăn hạn chế, đến 10 năm sau khi Mỹ tham chiến với lực lượng bộ binh thì là 1 vùng hứng chịu nhiều bom đạn nhât Việt Nam. Nhất thế giới, kể cả 2 thành phố Hiroshima và Nagasaki cọng lại, tính bằng kí lô TNT.
Trước đây không ảnh trên truyền thông quốc tế cho thấy 1 mặt bằng như trên cung trăng với hố bom san sát không chừa 1 thửa ruộng nào. Khó tưởng tượng bây giờ được như vậy.
Đường sắt qua Sông Bến Hải nhiều km về phía Tây của Câu Hiền Lương
Qua địa phận Quảng Bình.

Tàu Thống Nhât là loại khi xưa mình gọi là tàu suốt - trái với tàu chợ - chỉ ngừng ở ga lớn và ngưng chỉ vài phút (từ 7 đến 15 phút) Ga Đồng hới là ga cuối cùng ngưng lâu là 15 phút (Đà Nẵng là trạm quan trong, ngưng gần 1 tiếng). Các ga truoc khi đến Hà Nội:
Huế (7 phút) - Đồng Hà - Đồng Hới - Hương Phố - Yên Trung - Vinh - Thanh Hóa - Ninh Bình - Nam Định - Phủ Lý.
Những tên gọi nghe quen mà vẫn còn lạ sau nhiều lần đã đi qua. Tiếc là lần này phải đi qua trong đêm tối và lúc ngủ nên không ghi nhận được thêm ấn tượng hình ảnh nào hơn. Các bạn có thể tìm xem cảnh quan chung từ đường bộ trong các trang du ký khác của blog này.



Tiếng còi xe hỏa trong đêm khuya thanh vắng não nề ai có nghe qua một lần là không thể nào quên.
Em ghi chú lộn 1 trong các hình là ga Vinh, không phải Đồng Hới.
Ga chót là ga Phủ Lý chỉ cách Hà Nội chừng 30 phút.

Đến Hà Nội vào lúc 5:30 sáng. Đây là nhà ga lớn, khác với ga em đi Lào Cai 2 lần truoc đây. Nói chung 2 ga khời hành là Đà Nẵng và ga đến là Hà Nội tương đối sạch sẻ, an ninh và tương đối trật tự. Du khách nước ngoài (em nghe lén được 4 thứ tiếng Pháp Anh Y-pha-nho và Quan thoại) cũng không than phiền hay chê bai gì lắm.
Thái độ tác phong nhân viên hỏa xa và hành khách mình cũng hòa nhã và lịch sự ở 1 mức độ, không ồn ào te rẹt, không mất vệ sinh... đáng kề. Nói chung trải nghiệm chuyến này có hơn mấy lần truoc em đi cách đây 7 năm và 4 năm.
 

Đến khách sạn ở Phố Cổ còn quá sớm chưa nhận phòng được, thả bộ ra bờ hồ Gươm.






Chủ Nhật, 1 tháng 5, 2016

Thừa Thiên Huế tháng 5-2016

Tiếp tục những chuyến du hành vô hạn định, năm nay thằng viết muốn đi thêm 1 đoạn đường sắt Thống Nhất từ Đà Nẵng ra Hà Nội xem nó ra làm sao. Cũng vì muốn sống lại một lần nữa trải nghiệm độc đáo của một chuyến tàu đêm - y hệt những chuyến tàu đêm những năm xa xưa, vì hệ thống đường sắt Việt Nam đã không thay đổi gì từ cả trăm năm nay. Sẽ có hình ảnh gửi bạn đọc trong vài post nữa. Chuyến đi Bắc năm nay có thêm bạn đồng hành nên mọi người tập trung ra Đà Nẵng, ở lại vài ngày.

Như mọi năm  Đà Nẵng là căn cứ đi xem nhiều nơi lân cận, đã nhiều lần mà vẫn chưa hết điểm đến. Chiến trường xưa đã qua lại nhiều lần, năm nay em định đến trận địa Khe Sanh xem nó ra thế nào vì lúc xưa chưa "được" đến, nhưng vì không thực hiện được bèn đề nghị ông bạn có xe ở Đà Nẵng đến xem 1 khu vực của tình Thừa Thiên chưa đến, mà cũng ít người biết đến. Lý do là vì tuyến đường đi qua tương đối mới thông sau này.
Đó là đoạn đường quốc lộ gọi là 49B. Gọi là quốc lộ nhưng chỉ như 1 con đường làng và ngõ vào tji2 lại ít ai  để ý được. Các bạn có đi bằng phương tiện riêng nhất là xe gắn máy nên chọn đoạn đường này đi khi di chuyển từ Hải Vân ra Huế, kể từ chân đèo - hay nay là cửa Bắc Hầm Phước Tượng - để xem vì đường này khá đẹp. Như em kể bằng hình ảnh trong post này.
Em có phương án B, C... cho thời gian dành cho những dự định không thành, điểm đến này là 1 phuong án B, do từ trước khi đi có thấy trên mạng nhiều người nói đến 1 nơi ở đó có 1 "thành phố ma" rât lớn rất nguy nga, với những lăng mộ của người giàu có trên 1 bãi cát.

Đường ra tới Cửa Thuận An để về Huế, không xa hơn là bao như thấy trên bản đồ. Muốn đi các bạn chú ý khi ra khỏi hầm mới Phước Tượng 1 đoạn rất ngắn sẽ thấy ngõ rẽ bên phải, rất nhỏ. Nếu đi đèo Phước Tượng thì là nơi cuối dốc đổ xuống, phía Bắc.


Sông Hương đổ ra biển ở cửa Thuận An - hay Cửa Thuận, danh từ được dân gian dùng để chỉ địa bàn nhỏ dân cư chung quanh. Thực tế Sông Hương đổ ra 1 hệ thống đầm, là những hồ nước biển được tạo thành do những giòng thủy lưu "vuốt" theo bờ biển lôi cuốn cát biển mà ra. Mùa hè thì nước từ Nam ra Bắc, mùa đông thì từ Bắc vào Nam (bên lề thôi: các bạn nhớ chiều thủy lưu theo mùa như vậy nhé, để có ý kiến trong vụ cá chết trong tháng 4, 5 này nhé. Ý kiến của thằng viết là nếu do "chất độc" từ Hà Tịnh thì vùng chất độc trôi đến phải là phía Băc của Miên Trung, không thể nào là phía Nam).

Phía Bắc Cửa Thuận là 1 đầm dài với bề rộng đáng kể nên dân gian gọi riêng là cái phá, tên là Phá Tam Giang. Vùng đầm nước mặn phía Nam  Cửa Thuận được người địa phương chia ra đầm gọi bằng nhiều tên, thứ tự từ Bắc xuống Nam là Đầm Thanh Lam - tên dân giả là Đầm Chuồn, do đó có Làng Chuồn, vì cá chuồn là cá nục có cánh chuồn đến đó cho người ta bắt ăn (cá chuồn kho Huế ăn với cơm nguội bạn đọc ăn xong không muốn đi) - rồi đến Đầm Hà Trung, đến Đầm Thủy Tứ và cuối cúng là 1 đầm rất rộng nhưng rất cạn là Đầm Cầu Hai. Dãy đầm này có 1 cửa ra biển thứ nhì ở phía Nam là Cửa Tư Hiền, nay đã có cầu bắt qua. Hai bên cửa Tư Hiền doi đất cát phần Nam thuộc Phú Lộc, phần Bắc thuộc Phú Vang (quê nội của thằng viết nhé). Phía ngoài Cửa Tư Hiền được che chở bởi 1 mũi núi, Mũi Chân Mây, ở đó gọi là Vịnh Chân Mây (tên này người viết mới nghe, truoc 1975 không biết đến).

QL-1A - trên tuyến đường Con Đường Cái Quan - về hướng Huế thì trước tiên là qua đèo Hải Vân, sau thì đến đèo Phú Gia, 1 con đèo nhỏ, ngắn. Nay đã có 1 đường hầm tránh đường đèo, thông xe vài tháng trước đây (12-2015) Đèo Phú Gia dài 447 m xe gắn máy và xe bồn qua được khác với hầm Hải Vân và giống hầm Phước Tượng.
14.5 Km sau về hướng Huế thì đến Hầm Phước Tượng, nay là 1 lưa chọn với đường đèo. Hầm dài 375 m và rông 12 m giống như hầm Phú Gia. Khánh thành chỉ mới vài tháng truoc cùng 1 lúc với Hầm Phú Gia.
Năm ngoái em vừa được "khánh thành" Hầm Đèo Ngang Hà Tịnh và Cầu Nhật Tân Hà Nội!  Các chiếc cầu, đường hầm này sẽ tồn tại trăm năm hay vĩnh viễn, và em đã có mặt khi chúng được khai sinh!
Hạ tầng giao thông Việt Nam đang được tân trang và cải tiến với tốc độ đáng phục cho 1 nước đang phát triển.
Hình trên là QL-1A khi ra khỏi hầm Phước Tượng. Nếu thấy cảnh quan này thì bạn đã đi quá ngõ rẽ vào đường 49B rồi, phải quay lại.
Đây là cảnh quan sau khi rời QL1 và xuống con đường vòng ra theo bờ Nam của Đầm Cầu Hai. Hình trên và dưới là cùng 1 điểm đứng, bờ Nam đầm.
Đầm Cầu Hai rất lớn, như 1 biển hồ nhưng là rất cạn. Bề ngang mặt nước là trên 15 cây số.
Một đoạn ngắn sau khi xuống QL-49B thì đến cầu Tư Hiền mới xây gần đây (2007). Hình dưới nhìn vào phía đất liền và 1 đoạn đường 49B vừa đi qua, nơi là điểm đứng chụp các hình trên.
Cảnh quan từ giữa Cầu Tư Hiền rất thoáng rất ngoạn mục.
Cầu dài 1000 thước. Từ trên Cầu Tư Hiền nhìn vào trong và vế hướng Tây Bắc, hướng nhìn dọc theo chiều dài của dãy đầm, thành phố Huế dựa lưng vào dãy núi mờ nhìn thấy phía xa. Ngọn đồi màu đậm nhìn thấy là "núi" Túy Vân, nằm trên dãi cát, giữa đầm và biễn.
Từ trên cầu, cũng là điểm nhìn từ giữa Cửa Tư Hiền, nhìn vào hướng núi, phía Tây, nơi có tuyến lộ QL-1A trong đó. Ngọn cao là núi Bạch Mã.
Cửa biển Tư Hiền. Là cửa biển thứ 2 của dãy đầm từ Phá Tam Giang, thông nước Sông Hương ra biển. Đời Lý gọi là Cửa Ô Long, đời Trần tên là Cửa Tư Dung, đến đời triều Nguyễn thay tên lần chót.
Đầm Cầu Hai rất cạn, các bạn thấy ánh màu vàng trên mặt đầm là cát chứ không phải màu nước có phù sa nào.
Cái cục đất nhô lên trong dáy hình dưới là "Núi" Túy Vân, được một chúa Nguyễn xưa cho là 1 trong 9 cảnh đẹp đất Thần Kinh (chắc vì chổ ngoạn cảnh đẹp chứ nó chỉ là 1 nhô đất trên dãi cát dài).
Và dạ vâng, bạn đọc đang đứng trên địa phần "đất Thần Kinh", nơi có hồ có biển có núi, rừng dưới trời xanh bao la, địa điểm với phong thủy độc đáo nhất trên toàn cỏi nước Nam. Khỏi bàn tại sao chúa Nguyễn chọn làm nơi cắm dùi làm kinh đô ly khai miền Nam, Phú Xuân thủ phủ của xứ Nam Hà, xứ Đàng Trong.
Dải cát dài bên ngoài các đầm nước mặn xưa nay không là đất nông nghiệp được, chỉ mong vào mua mưa trồng ít khoai ít sắn. Nay mình nhận thấy có chổ xanh đẹp có lẽ do có đóng giếng và nhiên liệu rẻ (xăng dầu, điện) để bơm nươc ngọt.
Xưa ở đây là những thôn chài nổi tiếng nghèo nhất. Thời kháng chiến chống Pháp cha người viết nói về các xóm chài ở vùng này, người đen điu khổ sở, có thôn chỉ có vài bộ quần áo dài ống, nhiều người không quần áo gì cả. Khi có người lạ đến chỉ 1 vài người ra tiếp còn lại phải trốn vì vậy, không có vải che thân. Họ bị người trong Huế khinh miệt đến nổi gọi họ là kẻ, kẻ chài, như kẻ trộm kẻ cướp hay kẻ ăn xin.

Ngoài ra thì đây là địa hình địa chất nguyên thủy của doi cát (hình dưới). Phần lớn đoạn 50 km đi qua là như thế này, cho nên...
đây là địa phận của... người chết. Nguyên 1 vùng ven biển thật dài người ta đã dùng từ xa xưa làm nghĩa trang.

Điểm thằng viết muốn đến tên là An Bằng, là nơi trên mạng có hình các ngôi lăng mộ khủng nhiều nhất, mới làm do người mới ăn nên làm ra trong thời buổi kinh tế đang lên và người vượt biên gửi tiền về xây. Chổ đó nằm gần chân cầu và vì nói chung đoạn này ít người bộ hành nên không thể hỏi đường, và đi quá xa mới khám phá trên GPS điện thoại, nên phải bỏ qua, vì đồng hành hơi bị đói. Và nóng: tháng 5 trên vùng cát Thuận An không phải là chổ mát lắm.
Dù vậy thì suốt dọc đường phần phía 2/3 dưới này của doi cát toàn là nghĩa trang xưa và mới hơn với đủ thứ kiến trúc đa dạng và bắt mắt.
Một số hình là từ  trên xe, cảnh bên đường nhưng có hình là đi vào trong nghĩa trang chụp.
Được cái là, những nghệ nhân bản địa rất khéo (cũng như kiến trúc sư) và theo đúng phong cách cổ truyền. Phần lớn người ta nói họ lấy lăng Khải Định làm mẫu nhiều, nhưng hoa văn và trang trí là đúng phong cách đời Nguyễn, với rât ít sai phạm như sư tử Tàu, đầu rồng Tàu. Mỹ quan của các ngôi mộ không thể chối cãi.
Các bạn bài Hoa bài Hán thì vào đây sẽ bức xúc lắm nhé. Không biết chữ Hán thì đố mà biết mộ nào của ai.*=)) rolling on the floor
Phía bên phải đường (phía biển) là liên tục những nghĩa trang lớn nhỏ.
Phần gần Cửa Thuận hơn là nhà từ đường, nhà thờ họ, đình làng san sát.
3 chữ trên cổng là Nguyễn Từ Môn. Từ là nhà thờ tổ tiên. Tại Thừa Thiên bạn sẽ thấy rất - rất - nhiều nhà thờ giòng họ Nguyễn. Là tại vì có rất nhiều họ Nguyễn, và ai cũng nói là giòng Nguyễn bên mình là nhánh họ Nguyễn đến đây đầu tiên. Chả biết ông nào đúng, nhưng là ở Phú Vang là nhiều nhất (quê nội em nhé).
Một lần nữa, họ là Nguyễn chứ không phải Trần hay Lý hay Hồ gì khác là gốc Tàu nhưng mà không biết chữ Tàu thì đố mà biết đền thờ ai.
Nhìn về phía bên trong con đường 49B, phía xa là Đầm Hà Trung. Mặt đất đã được cải biến chắc cũng đã lâu để có thể trồng trọt tuy không trù phú mấy. Phía tay mặt thì là vùng cát và nhiue62 phần là nghĩa trang như trên (các hình mồ mả là phía tay phải, phia biển (cách chừng 200 đếm 300 mét là bờ biển).
Con đường đi thằng hướng Tây Bắc đến 1 khu dân cư rồi đến Thuận An, từ đó có cầu và đường dẫn về Huế.
 QL-49B đoạn đưa về thành phố Huế

Hoa sim bên đường - Phú Lộc
Hình ảnh vùng đất từ Thuận An về kinh đô Huế em có tải lên ở các post trước, các bạn tìm xem thêm nhé.