Địa lý thiếu nhân văn như bánh bao thiếu hột dịch, hủ tiếu thiếu xương heo. Từ cống đập Ba Lai đi theo hương lộ HL-14 chừng 12,5 cây số thì đến chợ Ba Tri. Từ đó đến lăng mộ cụ Đồ Chiểu 2 cây số, quay kiếng xuống để hỏi đường đi vì trong khu đô thị cũng khá lùm xùm.
Sinh quán cụ là Bình Dương*, năm 1862 về đinh cư tại đây. Cụ là nhà văn, thầy giáo và thầy thuốc, năm 25 tuổi đả mắc bệnh mù lòa. Cụ Đồ được Unesco liệt vào danh nhân văn hóa thế giới tháng 11-2021 dưới thời bác Phúc, cũng là một danh nhân văn hóa. Đươc Unesco hổ trợ vật chất nên lăng Cụ thấy nét văn hóa Tây, bề thế nhưng gon gàng, văn minh ra, chỉ thiếu chổ cắm nhang và thùng công đức. (Đền kỷ niệm tầm cở mà thiếu "du lịch tâm linh"! như núi Bà Đen!)
Thị trấn Ba Tri, dân số 13 500. Ở Việt nam còn tồn tại nhiều điểm dân cư không cổng chào, không băng rôn, không cờ đảng. Bậy.
Qua các bài về Thương Lào các bạn đã định vị được tinh Xieng Khouang, nằm vắt trên đường 7 Thượng Lào giáp với Nghệ An. Nếu mình tưởng tượng nước Lào là một sinh vật đa tế bào nào đó, thì Cánh đồng chum ở vi trí trái tim của sinh vật đó. Mãnh đất màu vàng nhạt 20 x 20 Km ngay trung tâm cao nguyên Xieng Khouang trong bản đồ là một lòng chảo khá bằng phẳng.
Đây có lẽ là miền đất với bề dày lịch sử được ghi nhận dày nhất nước Lào cận đại. Các bạn đến đó bằng đường bộ từ Luang Prabang là tiện nhất, hoặc máy bay nội địa từ Vientiane hay Luang Prabang. Phương tiện sau có vẽ thuận tiện nhưng 1 là mắc mỏ, 2 là đã đến xem đất nươc Lào mà đóng cửa trong chiếc máy bay, lướt qua xứ sở xinh đẹp thì quả là lãng phí.
Thị xã Phonesavanh hay Phonsavan là thủ phủ tỉnh Xiêng Khouang (phát âm như: Phôn-xa-vảnh, cũng là một họ người Lào[1] phổ biến, cả ở bên Mỹ). Tiện nghi như một thị xã bên VN nhưng với dân cư thưa thớt, 37.500 người năm 2023. Phonsavan phát triển và dân cư tụ về 1-2 thập niên gần đây do các trợ giúp quốc tế cho các di tích khảo cổ và nổ lực dò phá bom mìn từ 50 năm qua. Kinh tế chủ yếu nông sản tiêu thụ địa phương, giao thương với VN và du lịch Cánh Đồng Chum. Có một phi trường nhỏ địa phương.
Lancang là cách viết bính âm (hệ la-tinh hóa pinyin) của tiếng Trung phổ thông, mà phát ngôn nghe ra là 'Lan Xang'. Anh Pháp và Việt ngữ đều viết ngoại danh đó ra là Lan Xang. Viết Lancang để được phải đọc ra là Lan Xang là có ý đồ. Lý do là hệ thống tàu sắt này cho đến nay là của Trung quốc. Cho đến ngày nào món nợ xây dựng được hoàn trả lại hết thôi! Đời là thế.
Lancang còn là tên người Trung gọi giòng sông Mekong chảy bên xứ họ. Lane Xang chính là tên quôc gia tiền thân của nước Lào hiện đại, là 1 vương quốc lớn có từ giữa thế kỷ thứ 14 đến thế kỳ thứ 18 thì phải suy tàn. Tên đặt nước Lào là "Xứ triệu voi" từ trong nghĩa danh từ này mà ra. Sử tàu gọi là Nam Chướng, lúc cực thịnh có thể đã lớn hơn Đại Việt đời Lê sơ về diện tích.
Lữ thứ về vùng đất ít ai đến nhưng lại rất gần - tháng 3 năm 2023
Nhiều người thường nghe qua đọc qua, rồi mang xử dụng thành ngữ 'miệt vườn' theo thời thượng nhưng là mơ hồ về địa dư - nó ở đâu - và phong thổ, con người, văn hóa. Em thì biết, vì lúc trước đã có đươc hồng phúc đi lao cải trong khu vực địa bàn này. Các bạn hỏi người khác, đừng hỏi em lao cải là gì. Đây là tâm điểm miệt vườn(1). Mời các bạn xem một it hình ảnh tiêu biểu trong một vùng sâu, rồi xem tại sao lại gọi là xứ vườn.
Đây là nhánh lớn cực bắc của sông Tiền Giang nhìn từ bờ cù lao Ngũ Hiệp tỉnh Tiền Giang. Bên kia là tỉnh Bến Tre, huyện Chợ Lách. Xuôi giòng 2 km sẽ đến kinh - không phải kênh! - Chợ Lách thông ngang qua sông Cổ Chiên.
Tỉnh Bến Tre từ đây đến bờ đại dương là 2 múi đất dài 77 km nằm giữa sông Tiền Giang (nhánh chính sông Mê Kông mà có nơi gọi là sông Mỹ Tho) và chi lưu là sông Cổ Chiên. Đi giữa là sông Hàm Luông, 1 chi lưu khác. Đây là vùng đất đã mở 1 chương mới, quyết định, trong lịch sử Nam Tiến của người Việt mình, mà đoàn người khai phá lại do 1 người Minh làm thủ lĩnh.
Năm 1679 lãnh thổ nhà Lê phía Nam tận cùng ở ranh giới với nước Champa, Bình Thuận là cực Nam. Chúa Nguyễn* lúc này lại đang bảo hộ cho 1 phó vương Thủy Chân Lạp tên là Ang Nam đóng ở Prei Nokor, bên sông Bến Nghé ngày nay. Chúa điều đình được với vương cho tướng phục Minh là Dương Ngạn Địch mang chiến thuyền chở 1 số bại quân và gia đình vào đất Mỹ Tho* định cư lập nghiệp. Đợt người đầu tiên này đã mở 1 vùng đất thuộc địa, tiền tiêu, ở Miền Tây tiếp nối cuộc Nam tiến của dân tộc ta. (Đồng thời với 1 vùng phía Đông do Trần Thượng Xuyên 1 người Minh khác đến khai phá ở cù lao Phố, Đồng Nai cũng trong trường hợp như Dương Ngạn Địch*). Đó là bề dày 300 năm lịch sử của người Việt mình trên vùng đất mới này. Của các hình ảnh sau thâu được vào tháng 3 năm 2023.
Về lai lịch lạ lùng của ngôi mộ trong một nghĩa trang ở Bình Dương
Trong lần về xứ năm 2019với sự tham gia của một vài người bạn trong nước, chúng tôi đã tìm đến Nghĩa trang Lái Thiêu B, mục đích là để viếng ngôi mộ của một Vị Ân Nhân lúc xưa, thấp nén hương gọi là nhớ ơn thương tiếc. Lái Thiêu nay tuy là 1 phường thuộc xã Thuận An tỉnh Bình Dương nhưng đối với người Sài Gòn thì chỉ là một cuốc xe taxi ngắn ngủi.
Cầu Bình Lợi vượt sông Sài Gòn ranh giới tỉnh Bình Dương - 2019
Nghĩa trang L.T. B ỡ giữa khu đô thị rộn rịp xe cộ, không dễ thấy được nếu không cố ý tìm đến, có 2 khu A và B. Khu A là khu cố hữu dành cho người Hoa, Khu B người Việt mà một số lớn mộ phần là do đến từ việc giải tỏa nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi quận 1 năm 1983. Thế nên muốn vào khu B thì phải tìm cổng B mới đến được.
Vì tình trạng cấm vận toàn cầu chưa từng có trong thời đại mới khởi đầu từ năm nay, blog không có được tư liệu mới nào, thì xin chia sẻ với bạn đọc những hình ảnh phản ánh phần nào không gian đời sống thường nhật của đồng hương ta tại nơi tập trung lớn nhất ngoài miếng đất hình chữ S, là hạt Orange bang California, Mỹ Quốc. Hình ảnh ngày 20 tháng 8 năm 2020.
Đây nói về những biến dạng văn hóa tập tục con người do cơn dịch của thế kỷ mang lại. Về những nét văn hóa sinh hoạt mới sẽ khó phai mờ, hoặc sẽ không bao giờ đảo ngược, xóa bỏ hoàn toàn đươc chăng?
Trước nhất và rõ ràng nhất là thói quen chen chúc ở những nơi nào vế cung sản phẩm hay dịch vụ nhỏ kém thua vế cầu - tức ngưới đến tranh mua sản phẩm hay dịch vụ. Chính quyền các địa phương ra chỉ thị, nhẹ nhất là "khuyến cáo" giữ 1 khoảng cách cá nhân, goi màu mè là giản cách xã hội. Yếu tố thứ 2 là chính người dân đã ý thức qua giáo dục tuyên truyền về cách thức lay lan của mầm dịch từ người qua người, về tác hại và hiễm nghèo của bệnh covid-19. Chắc chắn việc chen lấn, nhiều khi thực tế là va chạm nhau sẽ trở lại trong tương lai gần, nhưng có lẽ sẽ ổn định ở 1 mức độ vừa phải hơn là trước mùa dịch.
Hai hình dưới là cáo thị tại 1 cửa hàng mỹ phẩm và tiếp liệu dùng trong nghề thẩm mỹ móng tay - của đồng hương dĩ nhiên. Cáo thị do chính quyền địa phương (sở y tế hạt) phân phát và buộc phải niêm yết, chủ nhân thương vụ chịu trách nhiệm giữ sao cho khách hàng tuân thủ. Hình cận cảnh phía dưới cho thấy các hàng chữ Việt chen với tiếng Anh: bạn đang ở trong 1 địa phận mà 4/5 cư dân là người Việt Nam. (Đừng hỏi em ở Mỹ mà không biết tiếng Mỹ à!? Em mệt lắm)
Blog về các nẻo đường Việt Nam mà năm nay thì ngăn sông cấm chợ không thể về được, nên đặc biệt trong cơn dịch cúm mà ảnh hưỡng toàn cầu chưa từng có em phá lệ dùng thông tin một vài khía cạnh xã hội, đời sống tại nơi em ở; thì cũng là về đồng bào ta thôi. Dưới đây là video em vừa quay ngày 26 tháng 3, 2020.
Clip này quay với thiết bị GoPro gắn trên xe, lái đi qua khu đồng hương ta sinh sống trong hạt Orange, bang Cali. Dưới con mắt người quen thuộc thì có thể nhận biết sự khác biệt với "thời bình thường", không có dịch, nhưng với ai chưa quen có thể không thấy gì đáng cho là lạ. Thí dụ có những con đường ở nhiều địa phương Mỹ mà ngày bình thường mật độ xe cô và người bộ hành ngoài đường cũng tương tự. Em có chú thích trong clip về vấn đề này.
Thực tế thì ngoài việc thông tin về đời sống người Việt trong mùa dịch, video này với nhiều bạn đọc mang tính chất "du lịch" tại chổ là chính: video cho xem không gian sinh sống bà con người Việt tại Mỹ.
Năm Tự Đức thứ 2, tháng 10-1849 một trận đụng độ quan trọng giữa hải đội Hoàng gia Anh có sự yểm trợ của hải quân Đại Thanh và Đại Nam, với hải tặc khét tiếng Thập Ngủ Tử (十五仔) tạiCửa Cấmcòn đươc phương Tây gọi là Trận hải chiến sông Tonkin - Battle of the Tonkin River - ám chỉ giòng nước chảy đến vịnh Bắc Bộ từ sông Bạch Đằng. Đó là một con sông họ nghĩ là rất lớn nhưng còn rất mơ hồ về địa lý và tên gọi. Tonkin River là một tên gọi "phỏng đoán" của họ. Họ (người Anh quốc) chưa nghe đến tên Red River.Người phương Tây đầu tiên đến thám hiểm giòng sông dài mà nay ta gọi là sông Hồng tên là Jean Dupuis, một con buôn đến từ nước Pháp. Jean Dupuis là người đã thống nhất các tên khác nhau của những đoạn sông Hồng và gọi dòng sông dài này bằng tên mà Việt Nam và thế giới đang dùng ngày nay.
Cuối đoạn đường Côn Minh-Hà Khẩu đoàn chúng em đi vào thành phố Hà Khẩu của Trung Quốc. Khởi hành từ sáng sớm và chỉ thực sự lên đường sau khi tham quan 1 cái chùa tại Côn Minh, đến cửa khẩu là khoảng 4 giờ chiều, giữa đường đã dừng lại ăn uống giải lao và kiểm soát an ninh nhiều lần. (Đường cao tốc rất hiếm khi phải xuống thị trấn, thị xã hay nói chung là thành thị, nhưng nếu có thì phải khám xét rất kỷ, nếu không thì công an lên xe chỉ đứng đầu xe và duyệt xấp hộ chiếu HDV trao. Mỗi lần em thì lại phải xuống xe theo họ vào trạm hỏi thêm và họ làm 1 phiếu kiểm tra, cho họ thôi, rồi được thả, không bị lấy nội tạng. Lý do là hộ chiếu của em là hộ chiếu Huê Kỳ).
Xe bus đưa đoàn du lịch đến đỗ ngay tại khu vực cửa khẩu.
Tiếp tục du ký Vân Nam cuối tháng 8, 2019. Sau gần một tuần vòng quanh vùng Tây-Bắc tỉnh Vân Nam đến vùng Tiểu Tây Tạng, đoàn thằng viết lên đừơng trở về xứ từ thành phố Côn Minh. Chuyến xe bus Côn Minh đi Lào Cai chạy hướng Bắc Nam theo 1 hành lang tự nhiên tương đối ổn giữa vùng đồi núi phía Nam tình Vân Nam (hình trong post trước). Đến một chổ cách Lào Cai đường chim bay gần đúng 100 km thì lọt vào thung lũng sông Hồng trên đất Trung Quốc. Tại đây gặp sông Hồng từ hướng Tây Bắc xuống, con đường bẻ gãy từ hướng 6 giờ qua hướng 5 giờ, đi về Hà Khẩu/Lào Cai. Vì đã có chuẩn bị trước người viết và đồng hành đã ghi lại được hình ảnh không gian của thung lũng và con sông hiếm có ai đời nay quan tâm tìm hiểu này.
Đây là bối cảnh thiên nhiên, địa hình địa vật nơi sinh ra suối nguồn con sông gọi là Hồng Hà. Giòng sông dài mà nay người Việt gọi chung là Sông Hồng có 2 nguồn chính thức ở một khu vực 50km phía Đông Nam thành phố Đại Lý tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Từ đó nước chảy 1150 km qua 2 nước Trung Hoa và Việt Nam, gần đúng 1/2 trong mỗi nước, mang nhiều tên khác nhau khi qua các địa phương. Trong bài ký sự này người viết xin dùng tên sông Hồng để nói đến tất cả các đoạn sông.
Muốn đến Nam Du các bạn phải đến Rạch Giá để lấy tàu khách ra đảo. Từ Sai Gòn không có xe đò đi thằng đến đảo, không có xe lửa ra đảo và Việt Nam E-Lai thì không có chổ đáp (sau này có thể có dịch vụ trực thăng hay thủy phi cơ chăng?) Xe buýt đi Rạch Giá thì các bạn biết rồi, dưới đây là giờ giấc phương tiện tàu du lịch từ Rạch Giá đi Nam Du. Chỉ có từ Rạch Giá, từ Sài Gòn Vũng Tàu Cần Thơ Hà Tiên v.v... thì không có: https://hatienphuquoc.com.vn/lich-chay-gia-ve-cac-tau-rach-gia-nam-du/
Đây là bến tàu du lịch tại khu lấn biển Rach Giá. Các bạn tính đi chơi thoải mái thì nên đi xe riêng ngao du tốc hành 1 vùng nào đó ở Miền Tây, chiều đến về Rạch Giá kiếm khách sạn nào gần nhất có thể đi bộ ra bến. Nhiều khách sạn có nhận giử xe dài hạng. Đi biển nhiều chắc các bạn biết về đêm hay sáng sớm rạng đông là biển lặng nhất, trưa và chiều thì sẽ dậy sóng gần như bất cứ vào mùa nào, phiền nhiều bạn nữ phải ói (mình ngồi cùng khoang tàu cũng sẽ không khỏe theo, dù "khỏe" đến thế nào ...). Thế thì các bạn nên lấy chuyến sớm nhất cho nó lành, như chúng em. Chúng em dùng xe thuê bao đi du ngoạn 1-2 điểm ở An Giang rồi mới đến Rạch Giá vào chiều tối, thuê phòng gần chổ này:
Cửu Long Giang, tên gọi*⍭không biết xuất hiện lần đầu tiên vào niên đại nào, trên đất Miền Tây, là 1 tập hợp gồm lúc đầu là 2 nhánh sanh ra từ sông Mekong⍭ tại cửa ngõ thành phố Phnom Penh, rồi về hạ lưu gần đến biển Đông thì có thêm những phân lưu của 2 nhánh đó. Hai nhánh lớn đó là sông Bassac phía Tây và sông Mekong phía Đông chảy qua biên giới Việt Nam cách nhau 10 km, tại vùng đất gọi nôm na là Tân Châu**. Nơi này cách bờ Biển Đông tỉnh Trà Vinh 1 đường thẳng dài 220 km.
Sông Bassac vào Việt Nam mang tên là Hậu Giang và sông Mekong là Tiền Giang tạo nên 1 miếng đất giữa 2 giòng nước hình lá mía bề dài từ biên giới Kampuchea đến bờ biển Trà Vinh, bề ngang lớn nhất trong tỉnh Vĩnh Long là 32 km. Hiện nay trên miếng đất dài giữa 2 giòng sông đó có phần tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và toàn phần tỉnh Trà Vinh. Qua bên kia, vượt qua sông Hậu về hướng Tây Nam là 1 vùng khác biệt người Pháp gọi là Transbassac - vùng "viễn Bassac" - mà người Đàng Trong trong cuộc Nam Tiến khó đến lập dinh điền hơn chính vì trở ngại 2 nhánh sông rất lớn này §.
Để thực sự thống nhất Miền Tây về mọi mặt cho đến hết bán đảo Cà Mau, thì phải vượt qua cả 2 nhánh sông Mekong và vùng đất hình lá mía đó để qua hẳn Transbassac. Và chân khô vượt qua được, ước vọng không tưởng của người khai phá đất phương Nam và của các vua chúa Nguyễn, cho đến gần đây hơn là của Pháp rồi chính phủ VNCH, giấc mơ ê ấp từ gần 400 năm qua hôm nay đã thành sự thật. Do đầu tiên là việc xây dựng cặp cầu Mỹ Thuận và Cần Thơ năm 2000 và 2010. Và nay năm 2019 là cặp cầu Cao Lãnh và Vàm Cống.
Phải công minh mà nói, những sự kiện này - 4 cây cầu này - là những sự kiện trọng đại trong toàn suốt lịch sử nước Việt Nam. 500 năm nữa lịch sử sẽ cô đọng lại, có thể sẽ như thế này: "Năm 1679 Dương Ngạn Địch ngược cửa Tiểu đến khai phá đất Mỹ Tho, và năm 2019 toàn bộ châu thổ Cữu Long đã được người Việt Nam nối liền bằng 4 cây câu lớn Mỹ Thuận, Cần Thơ, Cao Lãnh và Vàm Cống". Sẽ không ai hỏi Tây Sơn hay Nguyễn Ánh, Minh Mạng hay Tự Đức, Hòa Hảo hay Bình Xuyên v.v... hay Quốc hay Cộng. Lịch sử là lịch sử nước Việt Nam, của người Việt Nam.
🜇
Loạt hình trong đoạn du ký ngắn ngủi này là thứ tự từ tỉnh Đồng Tháp tả ngan sống Tiền qua hữu ngan sông Hậu, An Giang. Chừng 30 km. Đại khái trên quốc lộ 30 chừng 2km trước khi đến Cao Lãnh (từ Cái Bè) phía Đông sông Tiền mình sẽ qua Thốt Nốt phía Tây sông Hậu trên quốc lộ 91.
Cầu Cao Lãnh và cầu Vàm Cống là 2 đầu con đường băng qua miếng đất hình lá mía nói trên, trục đường từ Đông qua Tây. Đây là quốc lộ N2B băng qua chiều ngang miếng đất, hạ lưu nơi 2 giòng Mekong-Bassac chảy vào Việt Nam độ chừng 80 km chim bay.
Hai bên chân cầu Cao Lãnh đều là đất tỉnh Đồng Tháp. Đây là hướng lên cầu từ phía Đông đi vào vùng đồng bằng giữa 2 sông.
Bề ngang sông Tiền tại dây là 850 m. Cây cầu dài trên 2 km kể cả đường dẫn chân khô hai bên, nhịp chính dài 350 m. Cầu được thông xe tháng 5, 2019 (chúng em đến tháng 8, 2019)
Theo nhiều đấng tiên tri, chính trị gia, kinh tế gia, chuyên viên cà phê, youtube, giải mã này bật mí nọ, thì sông này đây sẽ cạn, phù sa này sẽ vơi, sắp rồi. Chỉ cần "thằng Tàu" nó xây thêm vài cái đập bên nó nữa là xong!
Bá láp.
Theo "phả hệ" thì sông Tiền Giang là thừa tự giòng chính sông Mekong từ Vân Nam⍭ xuống, cho dù ở vùng này khó phân biệt được với giòng kế thừa sông Bassac là sông Hậu, về tầm vóc và lưu lương mà nói. Đó là vì cách nơi 2 sông vào nước VN chừng 50 km (trong tình An Giang, ở hạ lưu thị xã Châu Đốc 30km) có sông Vàm Nao*** khá lớn thông ngang 2 sông, chia nước Mekong vào Bassac rất đáng kể. Về nhà chọn lựa lại hình chụp khi qua 2 con sông, chính thằng viết còn không chắc sông nào là Tiền sông nào là Hậu!
Xuống vùng đông bằng giửa 2 giòng sông, tỉnh Đồng Tháp. Quốc lộ mới tên là N2B, đoạn đi giữa 2 cầu trên đồng bằng này là 23.5km.
Nhìn không gian và hệ thực vật các bạn hiểu tại sao người Nam gọi khu vực này là Miệt vườn. đất cao và khô Nhiều người hời hợt cứ nghe 'Miền Tây' thì là đâu đâu cũng phải "ruộng cò bay thằng cánh", "vựa lúa Việt Nam" v.v... Cái gọi là "vựa lúa Miền Nam" đó không phải ở đây, trước thời hậu chiến lại càng không phải bên Đồng Tháp gần đây, mà là ở vùng cận duyên, cách đây khá xa. Và từ đây về xuôi không có "nước nổi", hiện tượng nước 2 sông Tiền và Hậu ngập hằng năm (vùng đó ở vùng đất thấp (trủng) hướng Bắc của chổ này.
Dĩ nhiên vùng đất bằng ở đâu có nước thì có lúa và nay khu vực cũng trù phú nhờ các vụ lúa cùng với nông phẩm vườn như rau quả trái cây, dừa v.v... Và từ nay địa ốc miếng đất giữa 2 con sông này nhờ các cây cầu còn sẽ tăng vụt giá trị.
Sau chừng 20 km, xe chạy ở tốc độ 60km/giờ thì là 20 phút, mình đã thấy cầu Vàm Cống trong xa.
Bề ngang sông Hậu tại điểm này là vài mét trên 1 cây số. Cầu dài gần 3km (2.97) kể cả đường dẫn chân khô hai bên.
Cầu Vàm Cống thông xe cũng vào tháng 5, 2019. Nhịp chính giữa 2 trụ lớn dài 450 mét, dài hơn nhịp chính cầu Cao Lãnh 100 m.
Nước này và phù sa này không từ tuyết rơi bên Tây Tạng, đất núi bên Vân Nam. Cho dù TQ có bít hẳn sông bên đó khả năng giòng sông này (2 giòng, bằng nhau!) sẽ không khô cạn như nhiều người hù dọa. Nghe theo họ là vì đơn giản nghĩ rằng nước 1 giòng sông từ nguồn cho đến biển chỉ là 1 - 1 thùng nước tại đây là thùng nước đến từ bên Tau! Các bạn hãy nhìn lên những đám mây khổng lồ trên trời rộng kìa. Và người xưa đã ghi nhận trong Đại Nam NTC là có khúc (ở thượng nguồn) nước sông trong xanh, ⍭ mà nay vẫn có thể đến kiểm chứng được, thì phù sa từ Trung Hoa nó đi ngõ tắt nào mà đến đây? Đất phù sa đọng lại sau đập thủy điện là 1 nhưc đầu vĩ đại cho công nghệ này hằng trăm năm nay, mới lạ gì, bộ ngồi xa lông bá láp mà khôn hơn kỹ sư, bác học à? Lưu vực sông Mekong là gần 1 triệu km vuông (795,000 km2), phần ở Nam Lào, Kampuchea và VN là trên 2/3, vũ thủy ở Đông Nam Á từ Thái Bình Dương cho đến bờ Đông bán đảo Ấn Độ phải nói là khủng khiếp.
Cầu Vàm Cống cách phà Vàm Cống chừng 2.5 km, trong hình này nhìn lên thượng nguồn bến phà trong đáy hình bên phải. Lịch sử trên 100 năm phà Vàm Cống, một nút giao thông rộn rịp nhất miền Tây đến năm 2019 xem như gián đoạn vĩnh viễn. Vàm Cống vì nút giao thông đó còn là 1 nét văn hóa đặc trưng và đầy màu sắc trên sông Hậu từ thời Pháp thuộc đến nay.
Chân cầu phía Tây của cầu Vàm Cống. Trong đáy hình tay phải các bạn có thể đoán thấy đỉnh của 1 ngọn núi trong cụm Bảy Núi tỉnh An Giang, ở tầm chừng 55 km và phương giác 280 độ. Dĩ nhiên ở cự ly xa như vậy thì các núi là dưới đường cong mặt đất, dưới chân trời, chỉ thấy được chóp núi.
Vùng đất nhìn thấy phía Tây này xưa gọi là vùng Transbassac, và cũng mới gần đây là "Long Xuyên". Hiện nay chân cầu này còn là trong địa phận lớn gọi là Thành phố Cần Thơ, chừng 1 km thôi. Chổ này cụ thể nếu quẹo trái theo đường QL91 sẽ đến đô thị Cần Thơ sau 53 km, 56 km sẽ đến chân cầu Cần Thơ đi về Vĩnh Long. Xuống chân cầu quẹo mặt chừng vài trăm mét là đã vào đất tỉnh An Giang (Long Xuyên xưa).
Nếu các bạn chọn đi qua cung đường trong trang blogpost này thì sẽ được đi qua 2 nhánh chính của sông Mekong nổi tiếng thế giới trong 1 thời gian ngắn, có thể được cảm nhận rõ ràng về con sông này trong nước ta. Các cung đường về phía hạ lưu sẽ đi vòng vèo và qua rất nhiều nhánh nhỏ và địa phương đa dạng hơn và sẽ khó định vị bằng. Hai giòng sông Tiền và Hậu ở đây, nằm trên 1 địa hình khá đơn giản sẽ cho các bạn cảm nhận cụ thể về toàn miền châu thổ, nếu về sau có đi lòng vòng phía gần các cửa biển thì sẽ hình dung địa lý dễ hơn. Cung đường tham quan này rất dễ tổ chức, cho dù các bạn chỉ theo phương tiện chuyên chở công cọng, thí dụ như đi từ Sài Gòn đến Long Xuyên, Châu Đốc hay Rạch Giá, Hà Tiên bằng phương tiện xe khách.
⏲
Phụ Chú:
* Trong Gia định Thông chí của Trịnh Hoài Đức (hoàn tất khoãng 1820) hoàn toàn không thấy xuất hiện tên gọi này. Người Pháp chỉ nói đến - và ghi chép - 2 tên Mekong và Bassac trong thời kỳ đô hộ Nam Kì. Một bản đồ Đông Dương của người Đức niên đại là 1867 đã ghi rõ các cửa biễn giòng sông "Me khung" là "Kua-long-giang". Đại danh từ Cửu Long Giang phải xuất hiện giữa năm 1820 và 1867, tức từ đời Minh Mạng đến đầu thời Pháp thuộc. Cuối thế kỷ 17 vào đầu thế kỷ 18 sông lớn này được phương Tây gọi là "sông Camboja" và họ đã biết phân biệt với các cửa biển thuộc hệ thống sông "Donnai". Quốc sử quán triều Nguyễn ghi nhận như sau (Đại Nam nhất thống chí): "Sông Tiền Giang cách huyện Đông Xuyên 2 dặm phát nguyên từ sông Cửu Long ở Trung Quốc...". 'Cửu Long' này ám chỉ 1 giòng sông, 1 con sông, và không thấy chổ khác chương khác lập lại, cũng hơi lạ. Ngoài ra ĐNNTC không thấy nêu tên Bassac như viết, tên này là phiên âm tiêng gọi địa phương gốc Khmer. ĐNNTC gọi khúc Bassac vào VN là sông Châu Đốc là không chính xác (như nhiều tiểu tiết khác trong bộ sách này). Sông Châu Đốc là 1 khúc sông ngắn đổ vào Bassac tại Châu Đốc, tên này cũng đã được dùng để gọi vùng đất bên sông là đất "Châu Giang".
** Cụ thể là biên giới Việt-Miên thuộc 2 huyện Tân Châu và An Phú tình An Giang. Huyên. Tân Châu có 2 bờ, phía Đông là sông Mekong và phía Tây là sông Bassac. Đường chim bay đến bờ biển Tra Vinh là 220km.
*** Hiện nay dân gian vẫn dùng tên Bassac để chỉ khúc sông thượng nguồn ngã ba hợp lưu với sông Vàm Nao. Vàm Nao không hẳn là sông, là 1 giòng nước nối liền 2 giòng sông dài chừng 6 km nhưng rộng đến trên 500 mét và khá sâu với giòng nước chảy cuồn cuộn. Các bạn xem thêm du ký Châu Đốc của em có thêm nhiều hình ảnh sông ngòi khu vực này.
§ Lịch sự sôi động cả về kinh tế và quân sự chính trị từ thời kỳ Nam Tiến cho đến thời kỳ chống Pháp diễn ra gần như chỉ trên miếng đất phía Đông sông Hậu Giang, ngoại trừ vùng Châu Đốc-Hà Tiên và các hải đảo (Mạc Cửu, Thoại Ngọc Hầu, hải đảo thì có chiến sự giữa Tây Sơn và Nguyễn Ánh). ⍭ Đại Nam Nhất Thống Chí bản dịch Phạm Trọng Điềm/Đào Duy Anh 2006 có ghi: "Sông Tiền Giang cách huyện Đông Xuyên 2 dặm phát nguyên từ sông Cửu Long ở Trung Quốc, nước chảy về phía Tây Nam, qua các nước Đông Chưởng, Vạn Tượng làm thành Khung Giang sắc nước vẫn đục, lại chảy vào địa phận Sơn Bô nước Cao Mên có thác dài mươi dăm thuyền bè không thông. Nước sông chảy qua đấy thì trong dần, lại chảy qua phủ Nam Vang làm sông Nam Vang, chảy về phía đông nam qua địa phận tình An Giang, bờ nam là địa giới của tình, bờ bắc là địa giới tỉnh Định Tường [... ...] lại chảy vào giang phận tỉnh Vĩnh Long."
Ảnh hưỡng môi trường và nhân văn của các đập thủy điện (nếu đập thủy lợi thì khác hơn) chỉ quan trong ở vủng hạ lưu trực tiếp và địa phương của đập.
⍭ Nước sông Bassac tại Phnom Penh tháng 5,2015. Tại Phnom Penh sông Mekong từ Lào xuống chia nước ra 3 nhánh. Một đi ngược lên biển hồ Tonle Sap, 1 là nhánh chính Mekong chảy qua Việt Nam là sông Tiền, 1 là sông Bassac chảy về Châu Đốc sau là sông Hậu. Tháng 5 là vào tháng mưa.
Nhánh chính Mekong tại Neak Luong, sau vào Việt Nam là sông Tiền. Hình tháng 5, 2015, mùa mưa. Các bạn so sánh màu nươc sông với màu nước trong các hình trên. Phù sa từ Trung Quốc, hay ngay cả Nam Lào đi đường tắt nào xuống đấy?
♖
Phụ lục, hình từ du ký trước đây: bến phà Vàm Cống nhìn về hạ lưu, nhân trong 1 chuyến phà cuối cùng, năm 2016. Nay mặc nhiên là 1 bức ảnh có tính lịch sử nhất định. Cục diện địa dư, kinh tế cũng như nhân văn Miền Tây đã vĩnh viễn thay đỗi từ nay.
Từ cáp treo trên Núi Cấm An Giang nhìn về hướng sông Tiền Giang (trên 55km)
♖
Trên 1 bản đồ của người Anh năm 1834 có ghi tên Kew-lung Kiang thay cho sông Mekong
Mời bạn đọc xem thêm links các blogposts có du ký và hình ảnh không gian sông nước châu thổ Cửu Long (và nhiều trang khác nữa có thể truy cập nơi ô 'Tìm trong blog này' trên đầu trang)
“Travel is fatal to prejudice, bigotry, and narrow-mindedness, and many of our people need it sorely on these accounts. Broad, wholesome, charitable views of men and things cannot be acquired by vegetating in one little corner of the earth all one's lifetime.” Mark Twain
" Ai có về bên bến sông Tương, nhắn người duyên dáng tôi thương..."(Nhạc sĩ: Văn Giảng, 1949)
Trong chuyến du hành Giang Nam chúng em 3 người đươc ghép chung tour với 19 đồng hành** khác và đi đến điểm cưc Bắc của chuyến đi là Trương Gia Giới, Hồ Nam bằng xe lửa từ Nam Ninh, Quảng Tây. Thành phố nhỏ Trương Gia Giới cạnh Vũ Lăng Nguyên hợp chung trong 1 khu bảo tồn và du lịch (di sản thế giới UNESCO), ít trải nghiệm lịch sử nhân văn, thằng viết xin dành 1 trang khác sau. Khu vực này nằm ngay biên giới phía Bắc của Châu Tự trị Dân tộc Thổ Gia và Dân tộc Miêu Tương Tây (tên hành chánh). Sau khi tham quan các điểm tại TGG-VLN và ở lại đêm tại đó chúng em quay về hướng Nam trên 1 chuyến xe bus, lần lượt viếng thăm Phù Dung Cổ Trấn, Phượng Hoàng Cổ Trấn và Cát Thủ Trấn trong châu tự trị.
** Các tour loại này thường tổ chức từng nhóm không quá 25 người, một số lượng khá thoải mái, vừa phải vì số ghế 1 xe coach rộng rãi là vừa từng ấy khách. Chuyến đi bắt đầu từ Hà Nội bằng xe, sang xe tại cửa khẩu Hữu Nghị, xe đến Bằng Tường rồi Nam Ninh, từ đó là xe lửa. Dĩ nhiên muốn xem đất nước con người thì đi đường bộ là lý tưởng, bổ ích, đáng chuyến đi (thêm vào là giá tour rất rẻ vì vé phương tiện đường bộ rất rẻ, cho dù tổ chức rất chu đáo và thoải mái cho từng du khách).
Hình ảnh từ chuyến xe để bạn đọc hình dung địa hình địa vật của khu vực này, vùng núi trung tâm của tỉnh Hồ Nam, hướng đi là Bắc Nam. Hình từ chuyến xe từ Vũ Lăng Nguyên là nơi có mộ ông Trương Lương về Phủ Dung Trấn cách đấy 100 km.
Tại Vũ Lăng Nguyên
Nếu các bạn nhìn thấy số xe, ký hiệu tỉnh trên bảng số màu xanh là chữ Tương cho cả tỉnh Hồ Nam. Sông Tương là con sông lớn xẻ đôi tình Hồ Nam chiều Nam Bắc, đổ vào Động đình Hồ và là 1 phụ lưu lớn của sông Dương Tử/Trường Giang.
[ Bên lề: lại nói về Bách Việt, các sông ở Giang Nam kể cà Trường Giang đều được gọi là "giang", âm hưởng của tiếng quan thoại, nhưng chữ gợi âm sau bộ thủy trong chữ giang lại là chữ "công" mới lạ. Các sông từ Dương Tử Giang, xưa người từ phương Tây viết là Yang Tse Kiang - trở vế phía Bắc là không còn Bách Việt nữa thì gọi là "hà". Trong chữ hà, chữ gợi âm sau bộ thủy là "khả" thì hợp lý. ] [2]
Đoạn đầu xuyên qua khu bảo tồn UNESCO Vũ Lăng Nguyên.
Con đường này xấp xỉ 280 km xuyên qua vùng đồi núi trùng điệp Tương Tây mà hoàn toàn bằng phẳng trên 1 cao độ, không có độ dốc. Suốt đoạn đường không có đèo mà chỉ là hầm, vô số hầm và vượt qua thung lũng và vực sâu bằng cầu trên trụ cao (trụ cao chỉ thấy được và chụp được từ cửa xe khi nào đi qua khúc quanh. Trong 30 năm hệ thống xa lộ cao tốc TQ đã vượt cả thế giới lên đến chỉ sau Hoa Kỳ về tổng chiều dài và chất lượng nói chung cao hơn cầu đường của Mỹ.
Hình trên: xa lộ cao tốc nhìn từ dưới thung lũng từ thị xã Vũ Lăng Nguyên lúc chưa lên xa lộ.
Xe chuyên chở công cọng đều có thiết bị GPS kiểm soát tốc độ từ trung ương do cảnh sat giao thông bắt buộc. Trong xe cũng có cả camera kiểm tra thường trực phía trong xe, như để bảo đảm là hành khách xử dụng giây an toàn. Xe chúng em đi thì cởi giây an toàn di chuyễn lui tới trong xe, không nghe tài xế hay hướng dẫn viên nói gì.
Trong tất cả 6 ngày di chuyễn và tham quan tại Quảng Tây và Hồ Nam thằng viết chỉ thấy qua 1 lần 1 xe cảnh sát giao thông trong thành phố Nam Ninh, chưa từng thấy mặt 1 công an ngoại trừ tại cửa khẩu. (Camera thì gần như ngừng chân quan sát tại gần như bất cứ điểm nào bạn tìm thế nào cũng thấy có, các bạn xem hình sẽ thấy). Giao thông tương đối trôi chảy và thưa trong vùng này của TQ, không có ô nhiễm và không thấy tai nạn bao giờ. Nếu không nhắc thì mình không nhận thức được rằng đã bước vào 1 quốc gia có trên 1 tỷ 4 nhân khẩu.
Thành phố vùng núi Vương Thôn - tại đó có cổ trấn Phù Dung - nhìn từ xa lộ trên cao.
Phù Dung Trấn, tên chữ là Vương Thôn
Thành phố nhỏ (trấn, zhen) Phù Dung, Cát Thủ và Phượng Hoàng nằm trong Châu Tự trị Dân tộc Thổ Gia - Miêu Tương Tây. Tương Tây nằm mé Tây tỉnh Hồ Nam, khu đươc đặt tên như thế vì nằm phía Tây sông Tương Giang - giòng sông Tương trong thi ca văn học Việt Nam đấy.
Lối vào khu vực tham quan còn ghi "Đường cổ Vương Thôn"
Phù Dung là tên loài bông bụp hibiscus, đươc lấy làm tên mới cho khu làng cổ xưa tại Vương Thôn sau khi 1 bộ phim trong những năm 1980 đươc nhiều người ưa chuông đươc quay tại đây và lấy tên là 'Phù Dung Trấn' - Hibiscus Town - chỉ mới đây để tiếp thị du lịch.
Cổng vào giả cổ, 3 chữ Phù Dung Trấn viết theo lối cổ từ phải sang trái.
Vào trong là thôn cổ thật với "thiết kế" xưa trên hơn 1000 năm và nhiều kiến trúc về sau, không có tường thành bao bọc nhưng lớn bằng 1 quận ở Hà Nội.
Cái nôi của dân tộc và văn minh Hán thời cổ đại là ở vùng trung tâm của bản đồ tiểu lục địa, gọi là vùng Trung Nguyên, 'trung' vì là vùng bình nguyên nằm giữa 2 con sông lớn Hoàng Hà và Trường Giang [1]. Từ đó dân tộc Hán tỏa ra chiếm cứ thêm đất đai bằng cách di dân đến sinh sống rồi áp đặt chế độ cai trị, nếu cần thì chinh phục bằng quân sự và lập biên trấn. Hai hướng chính phát huy phía Tây là vùng Hung Nô, về hướng Đông Nam là vùng đất nằm phía nam của sông Dương Tử (hay Trường Giang, sông chảy từ Tây sang Đông ngang 1 đường chia phần nữa phía Đông của luc địa Trung Hoa làm 2 phần nam bắc, phần nam gọi là Giang Nam [giang đây là sông Trường Giang]). Vùng đất này cùng tập hợp các săc tộc sinh sống tại đó trong lịch sử được gọi là Bách Việt, được Triệu Vũ Vương Triệu Đà là tướng Tần ly khai gom lại làm nước Nam Việt, địa bàn từ sông Dương Từ/Trường Giang chảy qua Động Đình Hồ ra cửa biển nay ở Thượng Hải, Nam giáp sông Mã hiện nay ở Thanh Hóa.
Từ khoảng trên 3500 năm người Hán đã chiếm cứ gần hết vùng nói này - chỉ trừ khu vực cực Đông Nam có 2 dân tộc Bách Việt là Âu và Lạc Việt đã kháng cự chặn đứng cuộc Nam tiến này của họ, và vẽ được biên thùy vững chắc cho mình, dứt khoát nhất là vào năm 939 của Công Nguyên, 11 thế kỷ trước ngày hôm nay. Giành độc lập, "Nam Đế Cư" cho đến ngày hôm nay,
Ngày nay những hậu duệ các giòng tộc không phải Hán còn sinh sống trên lãnh thổ của tổ tiên ở Giang Nam nếu có mật độ tập trung cao có thể đang hưỡng quy chế tự trị cho địa phận họ dưới chế độ chính trị hành chánh của trung ương nước Trung (Hoa Nhân Dân Cộng Hòa) Quốc. Vùng lớn có thể là cả tỉnh như Quảng Tây (tộc Tráng), Tây Tạng (Tạng), Tân Cương (Uy Ngô Nhĩ), vùng nhỏ gồm nhiều quận gọi là châu như Tương Tây gồm địa phận của 7 quận (Thổ Gia và Miêu)(ngoài Tương Tây người Thổ Gia còn đươc nhiều vùng tự trị nhỏ cấp quận khác ở các tỉnh khác quanh Hồ Nam).
Tên gọi Thổ Gia xuất hiện từ thế kỷ thứ 14, người của đất, phân biệt họ với dân tộc Khách Gia, không ở tập trung 1 nơi nào (người Khách Gia không phải là du mục, chỉ là đâu đâu ở Giang Nam cũng có cộng đồng, ví như người Do Thái bên Châu Âu. Theo các học giả người Khách Gia có giòng máu Hán, không phải Bách Việt). Dân tộc đươc gọi là Thổ Gia cùng 1 dân tộc với người Yao (Dao) ở thượng du Bắc Việt, cũng như người Miêu tại địa phận này cùng với người Miêu/Hmong tại Việt Nam và Thượng Lào Bắc Thái là cùng một dân tộc. Hai dân tộc này có quá khứ lịch sử khác nhau đối với đế quốc Trung Hoa mà nói. Người Thổ Gia tại TQ có 8 triệu người (so sánh với nước Lào chỉ có 6.3 triệu công dân).
Xưa là 1 dân tộc có bản chất dũng sĩ, nhưng quy hàng người Hán sớm, cung cấp chiến sĩ giỏi cho các đế chế Trung Hoa, chỉ chống đối với người Hán đang kể là vào giữa triều nhà Thanh đến về sau. Khi ly khai khỏi kiểm soát của người Hán thời Thanh, thời Cách mạng Tân Hợi và chiến tranh Trung Nhật họ có 1 truyền thống thổ phỉ khá hung bạo. (Chả biết để cường điệu hay không mà hướng dẫn viên tour cũng có nói, với truyền thống này, du khách các em cũng nên dè dặt cẩn thận tí trong khi giao tiếp với họ 😁) Truyền thuyết cương thi - xác chết biết đi - là từ Tương Tây này, bản chất là dân gian Thổ Gia, và liên quan đến truyền thống chiến sĩ của họ [2]
Cũng vì truyền thống chiến sĩ đó họ đã được các đế chế Trung Hoa xử dụng nhiều trong các cuộc chinh phạt bình định của họ, nhât là triều Minh. Đưới triều Minh họ đã được đưa tận bờ biển Hoa Đông dánh dẹp giặc biển Nhật Bản (cho dù họ là từ miền núi). Chắc thế nào trong chiến tranh và cuộc đô hộ ngắn ngủi ở Đại Việt họ cũng có mặt trong các đoàn quân viễn chinh nhà Minh, tuy cũng không giúp được khỏi thất bại và tổn hại tại đây. Không biết bao nhiêu phần trăm binh lính của Liễu Thăng đã "thập nhân khứ nhất nhân hồi" ởẢi Đầu Quỷ Chi Lăng?
Hình dưới: hai người phụ nữ Thổ Gia mặc trang phục cổ truyền (không phải người Hán hóa trang nhé) tại một doanh nghiệp.
Người Miêu và Thổ Gia sống pha trộn với nhau trong những cộng đồng ở Tương Tây và nơi khác ở Giang Nam, nên mình có thể gặp người 2 sắc tộc tại những điểm du lịch, đâm ra hơi rối. Thêm vào đó là rất có thể nhiều doanh nghiệp hướng về du lịch cũng thuê nhân viên hóa trang ra người dân tộc, em nghĩ cưỡi ngựa xem hoa thì khó có thể phân biệt. Thằng viết thì khi có dịp là hỏi thằng các đương sự để xác nhận (dĩ nhiên chỉ có thể là bằng tiếng phổ thông).
Ông Tây duy nhất đươc thấy trong suốt hành trình 6 ngày tại vùng này của TQ. Chả biết tại sao.
Tiếp viên người Thổ Gia thật trong 1 tiệm ăn tại Vũ Lăng Nguyên, ca hát trong ngôn ngữ họ.
Hình dưới: Phù Dung Trấn - Vương Thôn - đươc gọi là thành phố trên thác nước.
Các thị xã này mang chữ trấn. 'Trấn' nguyên thủy là 1 thứ đồn bót để cai trị ("bình định"): trong các thành thị nhỏ miền núi này cư dân "quan trọng", VIP, là người Hán xưa kia đã đến định cư và cai trị. Quan sát sơ sài mình cũng thấy người lao động và buông thúng bán bưng là người dân tộc, chủ nhân mình thấy thường thì là người Hán. Nhìn hiện tượng người kinh Viêt Nam lên kinh doanh lập nghiệp ở các vùng thượng du Miền Bắc như Tây Bắc, Lào Cai, Hà Giang hay Cao Bằng v.v... thấy rất tương tự. Người thiểu số ở TQ hay VN đều là phó thường dân, ngay trên mãnh đất tổ tiên mình, không thể chối cải đươc.
Dưới chân thác có đường đi qua.
Hình dưới: giữa khu thị trấn cổ có công viên Trụ đồng Khê Châu. Vào năm 940 của CN các bộ tộc Thổ Gia tại đây đã chấp nhận 1 "hòa ước" sát nhập và triều phục nước Sở lúc bấy giờ. Một trụ đồng lớn 2.5 tấn được đúc ra và dựng nên, nay đã không còn nhưng được phục dựng tượng trưng tại đây. Nhìn không danh dự mấy cho người Thổ Gia chả biết nhà nước nào đặt làm có ý gì.
Các bộ tộc người Thổ Gia có thể là từ tàn dư của nước Ba thời cổ đại, thời Hán Sở chỉ là bộ tộc rời rạc trên núi. Trong loạt bài du ký này người viết chỉ quan tâm về các cư dân, sắc tộc tại các địa phương, vì nói về lịch sử chính trị quân sự các nước có văn hóa Hán thời phong kiến trên mỗi lãnh thổ nhất là Giang Nam là 1 nhưc đầu vĩ đại. Không ai muốn hoặc có thể kể hết các nước nhỏ lớn đã từng 1 thời làm chủ từng giải đất phía Nam sông Dương Tử xuống đến Việt Nam bây giờ. Mặc kệ nó, không phải sử mình (chỉ có Tần và Hán vào thời cổ/trung cổ là có tác động trực tiếp tới phần đất mình, có lẽ mình nên xem qua thôi). Những "kiến thức" sơ sài và có định hướng từ sách giáo khoa tiểu học, lượm lặt thêm trong truyện chiến quốc hay kiếm hiệp, phong thần nhớ được như con vẹt để đàm tếu tưc nhiên là chả có giá trị nghiêm túc gì. Chỉ để bá láp thiên vị ông Tần này tốt ông Sở kia xấu, tên tuổi kể được vanh vách làm như thiệt! 😅
Các tộc trường Thổ Gia đều được Bắc Kinh phong tước là Thổ vương.
Tham quan ngôi nhà của 1 lãnh chúa Thổ Gia thời cân kim, chừng cuối triều Thanh đến trước chiến tranh Trung Nhật, thời đại khớp với các "vua Mèo" vùng thượng du Bắc Việt.
"Dân tộc" khi đươc dùng trong ngữ cảnh là dân tộc thiểu số ở các vùng xa, tương đối cô lập, đươc phân loại thứ nhất bằng ngôn ngữ, thứ hai bằng văn hóa (phong tục tập quán sâu đậm đặc trưng, tôn giáo, trang phục v.v... và tổ chức xã hội, công đồng trong đó có cộng đồng chính trị, lịch sử). Nhân chủng học tuy là chủ yếu trong cách phân biệt các giống dân lại là thứ yếu trong phạm trù này. Thí dụ điển hình là người Do Thái và Ả Rập đều là giống semitic, nhưng là 2 dân tộc không thể nào đối nghịch nhau hơn!
Hai dân tộc Thổ Gia và Miêu tại TQ rất giống nhau về nhiều mặt, bề ngoài là trang phục tương tự và cùng địa phận thổ cư và kinh tế. Đi tham quan kiểu cởi ngựa xem hoa thì chỉ nhờ hướng dẫn viên (nếu thông thạo, lão thành) thôi. Đi tìm hiểu - chưa phải là nghiên cứu - để biết, để học thì phải gấp 3 hay 5 lần thời gian, là ít. Người viết nghĩ là lối phân biệt nhanh chóng đơn giản nhất cho người ngoài là bằng ngôn ngữ. Va dĩ nhiên là bằng cách... hỏi họ!
Sau khi nhà Thanh bị lật đổ thì người Thổ Gia theo các lãnh tướng Quốc Dân Đảng trồng á phiện, các hoa văn chạm trổ các bạn thấy là hoa anh túc và trái cây á phiện, y hệt như nhà vua Mèo Vương Chính Đức tại Mèo Vạc em đã thấy. (Các bạn lên miền Bắc Việt Nam nhớ tránh gọi "người Mèo" nhé, nhân bản và lịch sự tối thiểu.
Hình thức khá tương tự như nhà cổ tại Đồng Văn tuy ở Hà Giang dân tôc là dân tộc Miêu - tức Hmong. Những công đồng 2 dân tộc này tại Tương Tây cũng sinh sống xen kẻ trên cùng địa phận như ở Việt Nam, có nhiều tương đồng giữa hai dân tộc nhất là về trang phục và thổ cẩm cổ truyền, giọng nói na ná, âm nhạc nhạc cụ v.v... phân biệt họ đối với người ngoài như du khách là rất khó.
Phụ nữ người Hán ở 1 tiệm ăn tại Cát Thủ. Cứ không thấy bạc trên người cho dù là ít thì không phải Thổ Gia hay Miêu rồi. Cát Thủ là thủ phủ Tương Tây mang bản chất Hán nhiều.
Bạn đọc đón xem hình ảnh tại các thị trấn Miêu, Thổ Gia khác tại Tương Tây và Cát Thủ.
Phụ chú:
[1] - Văn minh Trung Hoa nói một cách chung là văn minh Hán xuất phát từ giữa 2 con sông lớn, đã tạo ra miền trù phú phì nhiêu, y hệt văn minh cổ đại vùng đất Lưỡng Hà Mesopotamia (hiện nay là Iraq+Syria) nằm giữa sông Tigris và sông Euphrates có trước từ thê kỷ thứ 4 TCN. Chữ 'trung' trong Trung Hoa là giữa, ý nói giữa 2 sông Hoàng Hà và Trường Giang, người Hán đã gọi là trung nguyên ('hoa' mang ý nghĩa là văn hóa-văn minh, ám chỉ 1 trình độ vât chất và tư tưởng tiến bộ đáng tự hào). Người phương Tây dịch là Middle Kingdom vì hiểu sai thành trung tâm, và giáo dục trọng Âu Tây ở các thuộc địa cũ của Anh Pháp cứ thế mà hiểu, cho rằng người Hán tự đặt họ là '"cái rốn của thiên hạ". Nước Trung Hoa cho đến thời nhà Minh mới tạm ổn, hình thành 1 đế quốc, hình thành 1 địa bàn tương đối ổn đinh cho người Hán; trước đó cho dù có hùng mạnh như thời Tần cũng quá biết là sự hiện hữu của nó là rất bấp bênh, phải xây trường thành tứ phía, chia 5 xẻ 7 liên tục lấy đâu mà là "cái rốn" của thiên hạ. Người Hán biết quá rõ là phía Tây là sa mạc và thảo nguyên mênh mông, đưa đến những văn minh ở rất xa mà họ nghe đến trong nể phục, ngoài ra tứ bề là những thế lực toàn là đáng sợ đáng gờm.
[2] - Truyền thuyết cương thi này bắt nguồn từ 1 phong tục có thật nhưng đã bị bóp méo, tiểu thuyết hóa do truyền khẩu (người Thổ Gia không có chữ viết) và người Hán xử dụng trong truyện phong thần, kiếm hiệp, bịa, để nay người ta cứ nghĩ cương thi là chuyện ma của Tàu (tương dương với chuyện zombies của Âu Tây). Chỉ là truyền thống vác xác chiến sĩ chết trận xa nhà đem về quê quán, người chiến sĩ lúc ra đi khi nào cũng hẹn thề với cha mẹ là sẽ trở về, cho dù có chết đi. Tục truyền là thầy pháp có thể làm cho xác chết biết đi, để đỡ cho người vác xác. Xác chết đi theo, người tải xác đã đươc pháp sư truyền phép, đi đêm vửa đi vừa gõ chuông cho dân chúng mang con nít và nhất là chó vào nhà đóng cửa, nhiều cấm kỵ và tục lệ khác v.v... Ban ngày thì giữa đường có những "nhà nghỉ" cho cương thi trốn ánh mặt trời, chỉ đi ban đêm, đến mỗi làng đoàn xác dừng lại cho người thân ra nhận xác chồng con về an táng (người Thổ Gia thường hỏa táng). Tại Trương Gia Giới em có đươc xem một show rất lộng lẫy trong đó có hoạt cảnh khá lý thú về tục lệ cương thi này.
[3] - "Tiếng" Hán.
Chữ Hán là ký tự tượng hình ngày nay mình thấy trên con tem bưu điện của Trung Quốc. Chữ này là chữ tượng hình, không phải đánh vần phát ra 1 âm nào nhất định. Bất kỳ 1 dân tộc nào trên thế giới cũng hiểu được nếu đã học biết từ 1 nguồn chính thống, kể cả người Hoa Kỳ hiện đại, nhưng sẽ diễn tả bằng âm thanh ngôn ngữ qua 1 tiếng riêng theo sở thích và văn hóa của mình mà không đi lệch khỏi nghĩa của chữ đó. Số 1 đến 0 À Rập là 1 tương tự rõ ràng.
Những dân tộc ứng dụng chữ Hán như nói trên để viết (xuống trang giấy) những từ ngữ của dân tộc mình, toàn phần như người trong nước Trung Quốc, Đài Loan, hay bán phần như Nhật, mỗi dân tộc đều phát âm từng chữ khác nhau theo văn hóa của mình.
Tổ tiên và những người khai quốc nước Việt Nam hiện đại, khởi đầu trong lịch sử đã dùng toàn phần bộ chữ Hán, sau là pha trộn với chữ riêng của mình là chữ nôm, và sau thì đổi ra lối viết dùng chỉ 24 chữ cái và đánh vần để phát thành âm - không còn dùng chữ tượng hình.
Các dân tộc thuộc Hán tộc có hằng trăm (nhiều hơn 100) cách đọc 1 chữ Hán khác nhau, số lớn có thể hiểu lẫn nhau, có dân tộc không hiểu được nhau qua cách phát âm 1 chữ Hán. Đừng nói chi những dân tộc khác Hán như Việt Nam hay Nhật, hay Triều Tiên.
Hiện nay cách phát âm mà trên 1 tỳ người TQ dùng là hệ thống phát âm của ngôn ngữ Quan Thoại (Bắc Kinh, Bạch thoại, Quốc ngữ). Ngôn ngữ này dĩ nhiên tập trung quanh vùng Bắc Kinh, nhưng "quan" có nghĩa là ngôn ngữ - và cách phát âm - này là lối dùng của vua quan Trung Hoa từ 1 thời gian rất dài, it nhất theo logic thông thường là từ khi có... vua quan Trung Hoa, tức một xã hội phong kiến it nhiều vững chắc bền lâu. Tức là lối phát âm này đã "sống", được dùng rất lâu lùi vào lịch sử - cho dù khó chứng minh vì trươc Edison không có lối ghi âm nào để giữ lại di tích. Và dứt khoát là ngôn ngữ dùng để cai trị, và phổ biến văn hóa của nền văn minh có chế độ tập quyền Trung Hoa.
Người Việt Nam trong lịch sử đã học viết ký tự Hán* từ cách phổ biến này của chế độ tập quyền Trung Hoa, qua quan chức đô hộ của họ, có thể đã qua đến thủ phủ của họ để học thêm(?). Cho nên cách phát âm mang âm hưởng tiếng quan thoại cho từng ký tự Hán. Hiện nay tuyệt đại đa số ký hiệu Hán được người Việt Nam đọc, phát âm, ra 1 âm rất giống âm trong tiếng quan thoại cũa những ký hiệu, chữ, đó.
Người bình dân gọi là tiếng Hán. Người ngoại quốc nếu hiểu nghĩa từ Việt Nam thì sẽ không tin, làm gì có tiếng Hán! Người có học gọi là tiếng Hán Việt. Nếu tiếng Pháp Anh, tiếng Ý Đức, tiếng Miên Lào có nghĩa thì tiếng Hán Việt chắc sẽ có nghĩa, với 1 logic khôi hài nào đó.😁 (tạm cho là Hán nay được dùng như tĩnh từ, thì phải là chữ h thường thay vì H hoa chứ) **
Đó là tiếng Việt, 1 âm thanh mang 1 ý nghĩa dùng để giao tiếp thông tin, mà chỉ có người văn hóa Việt Nam nghe hiểu được. Người Hán chắc chắn không hiểu được. Những tiếng nói trên có gốc Hán/Quan Thoại, chữ Hán cổ truyền kết hợp với lối phát âm quan thoại. Đó là tiếng Việt gốc Hán, nếu muốn rõ hơn, nói tắt sẽ tiếng là tiếnggốc Hán. Ngưng dùng "tiếng Hán", "tiếng Hán Việt" đi!
Trở lại chữ hà trong 'Hoàng hà' chẳng hạn. Chữ Hán này gồm 2 ký tự, 1 là ký tự gợi nghĩa là ký tự thủy, 2 là ký tự gợi cách phát âm quan thoại, là ký tự khả. Hai ký tự này hợp thành chữ hà là hợp lý.
Chữ giang do 2 ký tự thủy và công, thì khó giải thích. Tại sao người dùng tiếng quan thoại ghép như thế mà đọc ra tiếng có âm hưỡng "giang" - jiang theo lối ghi chú bính âm bây giờ. Nếu đọc ra thành 1 tiếng giống như sông thì là hợp lý hơn chứ.
Tại sao các giòng nước lớn ở Giang Nam viết là giang với chữ công, âm hưởng tiếng 'sông' Việt Nam hiện đại?
Vì vùng đất này là vùng các dân tộc Bách Việt mà dân tộc Viêt Nam hiện đại là 1 trong những thành phần hậu thân - lai với các giòng dân tộc từ Đông Nam Á đến, đã đành. Và vì chữ Hán đó một lúc nào xưa kia đả đươc phát âm ra thành 1 tiếng có âm hưởng "ông", của những dân tộc Bách Việt.
* Chữ nho: chữ nho là chữ Hán. Giang hồ gọi là "xổ nho", vì là giang hồ đứng bến không được đến trường bao giờ. Không ai "nói chữ nho" bao giờ. Nói (phát âm để giao lưu) tiếng Trung, nói tiếng Viêt, không ai nói được tiếng Hán, không ai nói được tiếng nho.
** Nếu ai hỏi thằng viết thế thì thí dụ từ 'ngân' (viết theo lối A de Rhodes) là gì thì thằng viết sẽ trả lời là từ đồng nghĩa với bạc - không phải tiếng Hán cho từ bạc (vì làm gì có tiếng Hán!)